11:13 08/03/2013
Cỡ chữ

3.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội

Trong những năm gần đây, kinh tế của tỉnh Ninh Thuận có những chuyển biến tích cực trên nhiều mặt, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 2006 - 2012 đạt 10,3%. GDP bình quân đầu người năm 2012 đạt 19,1 triệu đồng, rút ngắn nhanh khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người so với cả nước, từ vị trí 50% năm 2008 đã tăng lên mức 62% vào năm 2012. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành Nông nghiệp và Thủy sản giảm 0,79% so với năm 2005 còn 39,3%; công nghiệp - xây dựng tăng tăng 1,9% so với năm 2005, chiếm 22,3% GDP của tỉnh; dịch vụ giảm 0,3% so với năm 2005, chiếm 38,4% trên GDP của tỉnh; công tác giải quyết việc làm đạt nhiều kết quả, bình quân trên 14.000 lao động mỗi năm. Các chính sách đối với người nghèo được thực hiện đầy đủ, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 21,29 % năm 2005 xuống còn 11,2% vào năm 2012.

Chăn nuôi là một thế mạnh của Ninh Thuận, đặc biệt là chăn nuôi cừu, bò... (Ảnh Thanh Dung)

Thu ngân sách nhà nước những năm gần đây tăng khá, năm 2010 đạt 883,7 tỷ đồng, năm 2011 đạt 1.158,9 tỷ đồng và năm 2012 đạt 1.320 tỷ đồng, gấp 5 lần so với năm 2005 và đang tạo đà tăng nhanh cho các năm tới; tổng vốn huy động đầu tư toàn xã hội năm 2012 năm đạt 4,1 nghìn tỷ đồng, gấp 7,9 lần so với năm 2005, trong đó vốn doanh nghiệp và dân cư đạt 4.100 tỷ đồng tăng 7,9 lần, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo đảm ổn định cuộc sống cho nhân dân.

Bảng 1: Tăng trưởng GDP của tỉnh Ninh Thuận (Giai đoạn 2006 - 2012)

                                                                                                               ĐVT: tỉ đồng

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

GDP (giá 1994)

2.002,5

2.352,3

2.549,9

2.729,4

3.017,5

3.331,7

3.674,8

Trong đó:

Nông - lâm - thủy sản

958,3

1.061,2

1.113,6

1.116,9

1.123,5

1.178,2

1.233,8

Công nghiệp - xây dựng

447,9

502

584,7

662,7

781,1

883,8

984,8

Dịch vụ

706,3

789,1

851,6

949,8

1.112,9

1.269,7

1.456,2

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận

3.2. Tổng vốn thu hút đầu tư

Trong giai đoạn 2006 - 2012, Ninh Thuận đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư từ trong cũng như ngoài nước. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội năm 2012 đạt 5.909 tỷ đồng, tăng gần 3,2 lần so với năm 2006; cơ cấu vốn đầu tư khu vực kinh tế ngoài nhà nước có chiều hướng tăng nhanh, chiếm 56,88% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2012, tăng 18,3% so với năm 2006; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 17,57%, tăng 17,35% so với năm 2006.

Bảng 2: Tình hình thu hút vốn đầu tư của Ninh Thuận (Giai đoạn 2006 - 2012)

                                                                                                                 ĐVT: tỷ đồng

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Tổng vốn

1.850

2.450

3.350

4.150

5.017

5.320

5.909

Vốn khu vực kinh tế  Nhà nước

1.132

1.211

1.194

1.718

2.231

2.224

1.510

Vốn ngoài Nhà nước

714

1.177

1.716

1.900

2.386

2.826

3.361

Vốn FDI

4

62

440

532

400

270

1.038

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận

Theo báo cáo của UBND tỉnh Ninh Thuận, tình hình thu hút đầu tư trong những những năm trở lại đây cũng thu được những kết quả khả quan. Việc phát triển hai dự án Nhà máy điện hạt nhân trên địa bàn tỉnh là cơ hội thuận lợi để thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, làm cho nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế biết đến Ninh Thuận và quan tâm đầu tư vào tỉnh nhiều hơn, tạo một làn sóng đầu tư mới thu hút nguồn lực đầu tư FDI, các doanh nghiệp trong nước, các nguồn tài trợ cho đầu tư hạ tầng của tỉnh....

 Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 229 dự án các thành phần kinh tế được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và chấp thuận địa điểm, tổng vốn đăng ký 98.361,6 tỷ đồng, trong đó:

- Có 192 dự án cấp Giấy chứng nhận đầu tư, vốn đăng ký 51.347,1 tỷ đồng (đầu tư trực tiếp nước ngoài 25 dự án, tổng vốn 20.243 tỷ đồng), 26 dự án đầu tư trong khu, cụm công nghiệp với vốn đăng ký 5.739 tỷ đồng.

- Chấp thuận địa điểm đầu tư 37 dự án, vốn đăng ký 47.014,5 tỷ đồng (đầu tư trực tiếp nước ngoài 04 dự án).

Trong đó, đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng có 105 dự án, vốn đăng ký 78.110 tỷ đồng; đầu tư trong lĩnh vực du lịch - thương mại - dịch vụ có 83 dự án vốn đăng ký 18.496 tỷ đồng; đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp có 4 dự án, vốn đăng ký 1.754 tỷ đồng.

Đáng chú ý là có nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng (điện gió, điện mặt trời), công nghiệp và du lịch mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư trong những năm gần đây trên cơ sở kết quả các hoạt động xúc tiến đầu tư, đang được các nhà đầu tư triển khai thực hiện. Riêng lĩnh vực điện gió đến nay đã có cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 07 dự án, công suất 566 MW, với tổng vốn đăng ký 21.124 tỷ đồng và chấp thuận địa điểm cho 10 dự án, với tổng vốn đăng ký 28.991 tỷ đồng. 

3.3. Kim ngạch xuất - nhập khẩu

3.3.1. Xuất khẩu

Do tác động bởi khủng hoảng kinh tế, tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh đã giảm từ 65.391 nghìn USD năm 2008 xuống còn 40.753 nghìn USD vào năm 2009 (giảm 37,68%). Con số này đã có dấu hiệu tích cực khi đạt 46.464 nghìn USD vào năm 2010 và đạt đến 72.088 nghìn USD vào năm 2011, tăng 55,15% so với năm trước đó. Thị trường xuất khẩu chủ yếu của tỉnh Ninh Thuận là thị trường châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Đại Dương.

3.3.2. Nhập khẩu

Tương tự, tình hình nhập khẩu của Ninh Thuận cũng có sự sụt giảm đáng kể từ 25.774 nghìn USD (2008) xuống còn 9.696 nghìn USD (2009). Tuy nhiên, từ năm 2010, tổng trị giá nhập khẩu cũng có những chuyển biến đáng mừng với 19.069 nghìn USD (2010) và đạt 20.900 nghìn USD vào năm 2011, tăng 10.96% so với năm trước đó. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm: máy móc thiết bị, vật tư và nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất...

3.4. Lượng khách du lịch

Mặc dù được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp và nhiều quần thể di tích nổi tiếng nhưng đến nay thì những tiềm năng này xem ra vẫn còn ở dạng “nguyên thô”, chưa có điều kiện để phát triển kinh tế du lịch. Nên mặc dù lượng khách du lịch đến với Ninh Thuận đã có bước tiến triển qua các năm, nhưng cả năm 2011 Ninh Thuận cũng mới đạt 820.000 lượt du khách.

Thông tin từ Sở VHTT&DL Thuận cho biết đến đầu tháng 11/2012 đã có trên 550 du khách người Nga đến Ninh Thuận tham quan nghỉ dưỡng từ 10 - 13 ngày. Đây là lần đầu tiên Ninh Thuận đón tiếp số lượng khách du lịch nước ngoài đến tham quan nghỉ dưỡng dài ngày tại Ninh Thuận với số lượng lớn.

Theo số liệu của UBND tỉnh Ninh Thuận, trong năm 2012, Ninh Thuận đã thu hút 950.000 lượt du khách, tăng 16% so cùng kỳ năm 2011. Được như vậy là do du lịch Ninh Thuận đã sôi động hơn, các doanh nghiệp đã triển khai nhiều chương trình xúc tiến, quảng bá thu hút khách du lịch, kích cầu giảm giá và nâng cao chất lượng dịch vụ, kết hợp khai thác tốt các tour du lịch, nổi bật là đã khai thác một số tour khách nước ngoài dài ngày từ các nước Nga và Nhật Bản. 

 3.5. Khu công nghiệp

Để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỉnh Ninh Thuận xem việc đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp là giải pháp đột phá. Ninh Thuận hiện có 2 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích là 777,28 ha bao gồm: KCN Du Long và KCN Phước Nam. Mục tiêu của tỉnh là tạo nên một KCN tập trung có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại đáp ứng được yêu cầu của công nghệ sản xuất tiên tiến. Đồng thời tạo ra những sản phẩm có chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, năng suất cao đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài, trên cơ sở đảm bảo một môi trường bền vững cho KCN.

- KCN Du Long: Nằm trên địa phận 2 xã Lợi Hải và Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, cách cảng Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa 30 km, cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 20 km. Phía bắc giáp khu dân cư Lợi Hải. Phía nam giáp khu dân cư Ba Tháp thuộc xã Tân Hải. Phía đông giáp quốc lộ 1A. Phía tây giáp tuyến đường sắt Bắc Nam, là điều kiện rất thuận lợi cho lưu thông, hoạt động của KCN. Tổng diện tích 407,28 ha, được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 là 254,18 ha, tiến độ thực hiện năm 2011 - 2013; giai đoạn 2 là 153,1 ha, tiến độ thực hiện năm 2013 - 2016. KCN Du Long là khu công nghiệp tập trung ít gây ảnh hưởng đến môi trường. KCN này chủ yếu bố trí các nhà máy lắp ráp điện tử, tin học, các ngành công nghệ cao; lắp ráp ôtô, xe máy; công nghiệp cơ khí chế tạo máy nông, công nghiệp; công nghiệp vật liệu xây dựng, xí nghiệp công nghiệp chế biến nông lâm thủy sảnsản xuất hàng tiêu dùng.

- KCN Phước Nam: Nằm trên địa bàn xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận; cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 15 km về phía bắc, cách Khu du lịch Cà Ná 10 km về phía nam, cách thành phố Nha Trang 120 km, nằm sát quốc lộ 1A, cách biển Đông 30 km, cách sân bay Cam Ranh 70 km và cảng Cam Ranh 50 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 365 km theo đường bộ về phía nam. Với tổng diện tích 370 ha và được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 là 151 ha, tiến độ thực hiện năm 2007 - 2009; giai đoạn 2: 219 ha, sau khi hoàn thành hạ tầng giai đoạn 1: 60%;  Phước Nam là khu công nghiệp tập trung ít gây ảnh hưởng đến môi trường. KCN này chủ yếu bố trí các ngành công nghệ cao, các nhà máy lắp ráp điện tử, tin học, lắp ráp ô tô, xe máy; công nghiệp cơ khí chế tạo máy nông, công nghiệp; công nghiệp vật liệu xây dựng; xí nghiệp công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản; công nghiệp may mặc, giầy da xuất khẩu.

Trồng nho là một thế mạnh của Ninh Thuận trong sản xuất nông nghiệp (Ảnh Thanh Dung)

3.6. Các ngành kinh tế mũi nhọn

Ninh Thuận được đánh giá là địa phương giàu tiềm năng phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực như: năng lượng, du lịch, công nghiệp chế biến, thủy sản, nông nghiệp… và thời gian qua những lợi thế to lớn này đã được tỉnh chủ động khai thác hiệu quả để phát triển kinh tế.

3.6.1. Công nghiệp năng lượng: Ninh Thuận là vùng nhiều tiềm năng (tốc độ gió lớn nhất cả nước, độ cao mặt trời lớn, thời gian chiếu sáng dài và đồng đều nên có điều kiện tiếp nhận hàng năm một lượng bức xạ mặt trời rất lớn...) để khai thác năng lượng mặt trời một cách có hiệu quả. Hiện nay, với nguồn năng lượng hóa thạch, dầu mỏ đang ngày càng khan hiếm đồng thời với việc ô nhiễm môi trường do đốt nhiên liệu gây ra. Các nước có xu hướng đang tìm nguồn năng lượng sạch để thay thế. Cùng với năng lượng điện hạt nhân, nguồn năng lượng tái tạo (gồm năng lượng gió, năng lượng mặt trời) được sử dụng sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phát triển điện, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, góp phần bảo vệ môi trường. Do vậy, việc khai thác năng lượng tái tạo gồm điện gió, điện mặt trời là tiềm năng của Ninh Thuận, đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm, mục tiêu hướng đến là xây dựng trung tâm năng lượng sạch của quốc gia.

3.6.2. Công nghiệp chế biến: Ninh Thuận đã và đang phát triển các ngành công nghiệp chế biến mà tỉnh có lợi thế theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng thương hiệu mạnh và tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu như:

- Sản xuất muối công nghiệp và hóa chất từ muối: Ninh Thuận có điều kiện khí hậu đặc thù về nắng nhiều trong năm, ít mưa phù hợp để sản xuất muối công nghiệp có năng suất và chất lượng cao.

- Chế biến đá granite: Đá granite là loại khoáng sản có trữ lượng lớn, độ nguyên khối và lộ thiên, dễ khai thác, thuận lợi về vận chuyển, đạt chuẩn về độ mịn, độ bóng và độ cứng, có nhiều màu sắc đẹp, có thể chế biến thành các sản phẩm phục vụ cho xây dựng trong nước và xuất khẩu. Đây là một lợi thế của Ninh Thuận trong khi nhu cầu thị trường đang rất lớn. Vì thế, Ninh Thuận chủ trương thu hút vốn đầu tư vào khai thác và chế biến đá granitte, xây dựng sản phẩm đá granite trở thành sản phẩm chủ lực có quy mô lớn.

- Công nghiệp nước khoáng: Ninh Thuận có 2 mỏ nước khoáng (mỏ Tân Mỹ ở huyện Ninh Sơn và mỏ Nhị Hà ở huyện Ninh Phước) có quy mô lớn, chất lượng đạt tiêu chuẩn. Nước có độ nóng cao, thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy sản xuất nước khoáng đóng chai, kết hợp phát triển du lịch nghỉ dưỡng, tắm nước khoáng nóng, tắm bùn.

- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản: Ninh Thuận với đặc điểm khí hậu nắng nóng quanh năm, thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng, vật nuôi đặc thù có năng suất, chất lượng cao với quy mô, diện tích lớn và sản xuất được quanh năm. Sản lượng nho tươi hàng năm ổn định từ 60.000 - 65.000 tấn, có thể dùng cho chế biến rượu nho, chế biến nho khô… Riêng các sản phẩm khác như: mía, neem, bông hạt, thịt gia súc (bò, dê, cừu), gia cầm… có sản lượng lớn, quy mô diện tích liên tục được mở rộng cùng với việc đầu tư hệ thống thủy lợi, đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Việc đầu tư chế biến các sản phẩm từ nho, cây neem, các nông sản khác và thịt gia súc gia cầm đang là lĩnh vực tỉnh khuyến khích kêu gọi đầu tư.

3.6.3. Ngành du lịch - dịch vụ: Với lợi thế nằm trong tam giác du lịch trọng điểm Đà Lạt - Nha Trang - Phan Thiết, cùng với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và nhiều công trình kiến trúc cổ Chămpa, Ninh Thuận đã xác định du lịch là một trong những trọng điểm phát triển với nhiều loại hình du lịch độc đáo (du lịch biển, du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa - lịch sử), có chất lượng dịch vụ tốt nhất, sản phẩm du lịch đa dạng.

3.6.4. Thủy sản: Với bờ biển dài 105 km, ngư trường Ninh Thuận có thể khai thác quanh năm, được xác định là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước với tổng trữ lượng cá, tôm tương đối lớn, khả năng khai thác 50.000 tấn/năm với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao có thễ phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Về nuôi trồng hải sản, vùng biển Ninh Thuận là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản đặc thù, có nguồn giống bố mẹ dồi dào và môi trường nước biển trong sạch là địa bàn lý tưởng để sản xuất các loại giống có chất lượng cao và với số lượng lớn, nhất là tôm giống và ốc hương giống. Hạ tầng phục vụ khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, trong đó cảng cá Cà Ná đang đầu tư trở thành Trung tâm nghề cá của tỉnh và khu vực, cảng Ninh Chữ được xây dựng thành nơi neo đậu an toàn cho tàu thuyền khu vực miền Trung. Các cảng cá trên đảm bảo thu hút và cung cấp nguyên liệu hải sản cho công nghiệp chế biến xuất khẩu, tiêu dùng trong nước và tạo điều kiện phát triển các dịch vụ.

3.6.5. Nông nghiệp: Với tiềm năng đất có khả năng đưa vào sản xuất nông nghiệp còn lớn, tỉnh đã tập trung phát triển các cây trồng đặc thù có giá trị kinh tế cao như: nho, thuốc lá...; xây dựng vùng trồng lúa chuyên canh chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp ngắn ngày, hình thành vùng trồng cây thực phẩm nông sản sạch cung cấp cho thị trường đô thị lớn trong nước. Ngoài ra, tỉnh còn phát triển các loại cây đặc thù rất thuận lợi với điều kiện khí hậu Ninh Thuận như: cây cao su (nâng cao hiệu quả sử dụng đất, chống sa mạc hóa đất, nâng cao độ che phủ rừng) và cây neem (phục vụ cho công nghiệp chế biến phân bón và thuốc trừ sâu sinh học) để cải thiện đời sống của nhân dân miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, với hơn 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi; diện tích đất trống, đồi trọc chưa sử dụng vẫn còn… là thuận lợi cơ bản để Ninh Thuận phát triển mạnh ngành chăn nuôi vốn là thế mạnh của tỉnh với các loại vật nuôi đặc thù như bò, dê, cừu. Việc đầu tư vào lĩnh vực sản xuất giống cây trồng, vật nuôi đặc thù mà tỉnh có lợi thế và chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp như cây neem, thuốc lá, nho… và thịt gia súc, gia cầm đang là lĩnh vực tỉnh khuyến khích và kêu gọi đầu tư.

3.7. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020

Những chuyển biến tích cực nêu trên là kết quả của những nỗ lực không ngừng của lãnh đạo và nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Trên cơ sở phát huy những thành tích đã có, đồng thời khắc phục những điểm còn yếu kém, tỉnh Ninh Thuận đã đề ra Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu phát triển tổng quát của tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 là: Xây dựng Ninh Thuận trở thành điểm đến của Việt Nam trong tương lai, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, có khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, tránh thiên tai; kinh tế phát triển nhanh, bền vững theo mô hình kinh tế “xanh, sạch”; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ, gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Quy hoạch cũng đề ra một số mục tiêu cụ thể như sau:

- Về kinh tế: Phấn đấu, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm GDP giai đoạn 2011 - 2015 đạt 16 - 18%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 19 - 20%/năm; GDP/người theo giá thực tế đến năm 2015 đạt khoảng 1.400 USD, bằng 70% mức bình quân chung của cả nước và đến năm 2020 đạt khoảng 2.800 USD, bằng 87,5% mức bình quân chung của cả nước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Đến năm 2015 tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng đạt 40%; ngành nông - lâm - thủy sản đạt 25%; các ngành dịch vụ đạt 35% và năm 2020 tỷ trọng các ngành tương ứng đạt 52% - 20% - 28%.

- Về xã hội: Giảm tốc độ tăng dân số tự nhiên. Giai đoạn 2011 - 2015 dân số tự nhiên tăng khoảng 1,15%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 1,1%/năm. Đến năm 2015 quy mô dân số đạt khoảng 640 - 650 nghìn người và năm 2020 đạt khoảng 740 - 750 nghìn người; tỷ lệ hộ nghèo thời kỳ 2011 - 2020 giảm khoảng 1,2% - 1,5%/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt 50%, trong đó đào tạo nghề đạt 33% và năm 2020 đạt trên 60% (đào tạo nghề đạt trên 45%).

Để đạt được mục tiêu đề ra, tỉnh đã xác định một số nhiệm vụ trọng tâm và tập trung phát triển vào 3 khâu đột phá quan trọng như sau để thu hút đầu tư và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế:

- Trước hết là triển khai thực hiện tốt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 do tư vấn nước ngoài xây dựng, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đồng thời tiếp tục hoàn thành Quy hoạch chung xây dựng thành phố Phan Rang - Tháp ChàmQuy hoạch phát triển dải ven biển; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành quy hoạch và xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp giúp các nhà đầu tư, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với các thồn tin về quy hoạch, đất đai.

- Thứ hai là đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Về hạ tầng, tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là các tuyến đường giao thông kết nối để tận dụng khai thác lợi thế về hạ tầng cảng biển, sân bay của các tỉnh trong khu vực tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, mà trọng tâm là tuyến đường ven biển dài 116 km. Việc đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tỉnh, khai thác lợi thế của vùng, tạo sức hấp dẫn thu hút đầu tư, phát triển du lịch, nhất là chuẩn bị cho việc xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận. Về phát triển nguồn nhân lực, với mục tiêu là xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trên một số lĩnh vực có lợi thế, bên cạnh việc đầu tư nâng cấp trường Trung cấp nghề lên thành Trường cao đẳng nghề, hiện tỉnh đang triển khai liên kết với các trường đại học, các trung tâm đào tạo có thương hiệu, có uy tín trong và ngoài nước để thành lập và đưa vào hoạt động các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh và một số tỉnh khu vực Nam Trung Bộ - Tây Nguyên.

- Thứ ba là tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng thông qua việc đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm chi phí gia nhập thị trường, chi phí thời gian cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, tạo sự thuận lợi theo hướng minh bạch, thân thiện, ổn định và để khai thác tốt nhất nội lực và thu hút tối đa ngoại lực cho đầu tư phát triển. Theo đó, trọng tâm là nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng Phát triển Kinh tế để tạo thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư đến thực hiện dự án tại tỉnh.

Đối với từng ngành, từng lĩnh vực, quy hoạch xác định các mục tiêu sau:

- Năng lượng: Phát triển nhóm ngành năng lượng, mà trọng tâm là điện hạt nhân và năng lượng tái tạo để Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng sạch của cả nước; mục tiêu đến năm 2020 nhóm ngành này đóng góp 11% GDP và giải quyết 5 - 8% nhu cầu năng lượng quốc gia.

- Du lịch: Phát triển toàn diện dựa trên tiềm năng và lợi thế du lịch của tỉnh, bao gồm: Du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa; từng bước hình thành khu du lịch trọng điểm của cả nước và khu vực Đông Nam Á với các loại hình du lịch đặc biệt có tính cạnh tranh cao, sản phẩm du lịch đa dạng, chất lượng dịch vụ tốt nhất.

- Nông nghiệp: Xây dựng theo hướng hiện đại, có năng suất và chất lượng cao, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; mục tiêu đến năm 2015 nhóm ngành nông - lâm - thủy sản đóng góp 25% GDP và giải quyết 37% lao động của toàn tỉnh và đến năm 2020 đóng góp 20% GDP và giải quyết 29% lao động của toàn tỉnh.

- Công nghiệp: Phát triển theo hướng công nghiệp sạch và tăng trưởng đột phá để chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả nền kinh tế; mục tiêu đến năm 2020 ngành công nghiệp đóng góp 12% GDP và giải quyết 13% lao động của toàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng giai đoạn 2011 - 2015 bình quân đạt 22 - 24%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 26 - 28%/năm.

- Xây dựng: Phát triển trở thành một ngành kinh tế mạnh, có trình độ kỹ thuật cao, từng bước hình thành thị trường bất động sản; ưu tiên đầu tư xây dựng các khu đô thị, khu dân cư mới, công viên, các nhóm ngành công nghiệp và cảng biển tại khu vực ven biển. Điều này sẽ gióp phần thu hút các nhà đầu tư trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ môi trường nhằm tạo ra môi trường sống tốt hơn và thu hút được lực lượng lao động có chất lượng cao. Mục tiêu đến năm 2020 ngành đóng góp 37% GDP và giải quyết 25% lao động của toàn tỉnh.

- Giáo dục - đào tạo: Phát triển toàn diện, đồng bộ cả về quy mô, chất lượng giáo dục đào tạo, bảo đảm tốt cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, huy động mọi trẻ em trong độ tuổi đi học đến trường học, giảm thiểu tối đa chênh lệch về giáo dục giữa các vùng miền trong tỉnh; phấn đấu đến năm 2020 nhóm ngành đóng góp 3% GDP và giải quyết 0,2% lao động của toàn tỉnh.

 

Tài liệu tham khảo

- Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại Hội nghị xúc tiến đầu tư Vùng duyên hải miền Trung, Đà Nẵng, 2013.

- Quyết định số 1222-QĐ/TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020.

- Cục thống kê Ninh Thuận, Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2010, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2011.

- http://wwwninhthuan.gov.vn

- http://www.baomoi.com